Bản Nưa "làm" du lịch
Cập nhật: 18/6/2015

Nghe tôi hỏi về chuyện bà con người Thái ở bản Nưa làm du lịch, Chủ tịch UBND xã Yên Khê (Con Cuông), ông Vi Văn Đậu hồ hởi: Bây giờ bà con đã nhận thấy vai trò quan trọng của việc phát triển du lịch, bởi nó đã trực tiếp mang lại lợi ích cho họ. Để minh chứng cho nhận định của mình, vị Chủ tịch xã mở toang cửa sổ chỉ tay về phía những ngôi nhà sàn mà ẩn sau đó là điểm du lịch Tả Bó. 

Đang mùa hè nên lúc nào cũng đông nghịt người xa gần đến tắm mát. Bà con dân bản hễ ai có những thứ hoa quả như chuối, vải, mít mang ra ngồi bán một loáng là hết veo. Người ta còn tìm hoa chuối, rau, củ, quả trên rừng về bán cho mấy nhà hàng phục vụ du khách cạnh suối nước. Những món ăn chế biến từ rau của rừng rất được du khách ưa chuộng. Ngày nắng nóng, lượng người đến với điểm du lịch Tả Bó tăng đột biến.

Cách đây chưa lâu, chính ông Chủ tịch UBND xã Yên Khê có than thở về những điểm du lịch tại Yên Khê như điểm du lịch cộng đồng bản Nưa hay Tả Bó rất thưa vắng người viếng thăm. Từ hơn 10 năm nay, bản thuần người Thái này được coi như là một điểm du lịch cộng đồng. Một nhóm du khách từ tổ chức UNESCO có viếng thăm nơi này và cắm biển như là chỉ dẫn địa lý về một điểm du lịch cộng đồng. Từ đó mỗi năm, những đoàn du khách nước ngoài có  ghé thăm bản Nưa một vài lần. Họ ngủ lại trong những ngôi nhà sàn sạch sẽ nhất, cùng ăn những món của người bản địa và yêu cầu được nghe hát dân ca Thái. Thế là một kiểu “dịch vụ” được manh nha. Một số nhà cải tạo cở sở vật chất để đón khách du lịch, một câu lạc bộ dân ca được thành lập. Thế nhưng mỗi năm chỉ vài lần có khách du lịch nên dần dà đâm nản. Cơm áo không đùa với những ước mơ xa vời, các nhà mở dịch vụ lại phải quay về với ruộng vườn, trồng lúa, trồng cam.
 
 
Tắm mắt trên ḍng Tả Bó.	 Ảnh: công kiên
Tắm mắt trên dòng Tả Bó. Ảnh: Công Kiên
 
Mùa du lịch năm nay đã khá khẩm hơn. Ông Vi Văn Đậu cho biết riêng trong tháng 5, 6 năm 2015 này đã có 7 đoàn khách du lịch ghé thăm điểm du lịch cộng đồng bản Nưa và suối Tả Bó. Đó là những đoàn khách lớn mà chính quyền xã nắm được, còn những đoàn ít người chỉ liên hệ thẳng với những nhà làm dịch vụ đón khách du lịch thì có lẽ còn nhiều hơn. 
 
Có được những điều “ban đầu” này, tất nhiên không phải chỉ là một dịp may, Chủ tịch xã khẳng định với tôi như vậy. Gần đây những điểm du lịch ở Yên Khê dần có thương hiệu. Nhiều người đã biết đến và ghé thăm, cũng bởi chiến lược phát triển du lịch đã được đề ra và thực hiện. Ông Đậu chia sẻ, tỉnh và huyện đã “xác định hộ” Yên Khê là phát triển du lịch cộng đồng phải gắn liền với việc khôi phục nghề dệt thổ cẩm và phát triển cây ăn quả có múi. Phương hướng này phù hợp với tiềm năng của địa phương. Chủ trương này sẽ thành hiện thực trong nhiệm kỳ 2016 – 2020.  Để khôi phục nghề dệt, tại bản Nưa đang có một lớp truyền dạy nghề thổ cẩm. Tính đến hết năm 2014, vườn cam ngọt trong xã đã lên đến 93 ha. Như vậy có thể nói việc thực hiện kế hoạch phát triển du lịch ở xã Yên Khê đến năm 2020 đã được “ấn nút”. 
 
“Tôi thiết kế cho anh là du khách đầu tiên tham quan mô hình này nhé.” Chủ tịch UBND xã Vi Văn Đậu nói với tôi, rồi ông nhấc máy gọi anh cán bộ xã đội dẫn đường. “Tuor” mà ông Đậu thiết kế hôm nay chỉ diễn ra trong một buổi sáng mà tôi có thể tham quan vườn cam, tắm suối Tả Bó, ngắm những thợ thủ công dệt vải tại nhà văn hóa cộng đồng của bản. Còn muốn thưởng thức hát dân ca và ẩm thực dân tộc thì phải có sự chuẩn bị ít nhất trước đó một vài ngày.
 
Điểm đến đầu tiên của chúng tôi là vườn cam của ông Lô Văn Cấp ở bản Tân Hương. Chuyến tham quan của chúng tôi sẽ mỹ mãn hơn nếu đến vào tháng 8, tháng 9 âm lịch khi cam bắt đầu chín. Bây giờ, những trái cam chỉ mới bằng quả trứng gà. Vùng trồng cam ở bản Tân Hương có khoảng 20 hộ, họ chủ yếu là dân bản. Có một số người từ những địa bàn ngoài về “liên doanh” với những nhà có đất ở đây trồng cam. Dân bản thì có đất, họ có kinh nghiệm trồng cam. Một bên đầu tư giống cây, thuốc bảo vệ thực vật, bỏ công chăm sóc. Chủ đất tham gia chăm sóc, bảo vệ. Lợi nhuận chia đôi. Nhờ cách làm này mà diện tích vườn cam tăng nhanh trong vòng 2 năm trở lại đây, có nhiều nhà thu về từ 200 – 300 triệu đồng/năm.
 
Ông Cấp cho biết, gần đây cam Yên Khê rất được ưa chuộng. Người ta ưa thích cam Yên Khê vì vị ngọt lịm, tép mọng nước, đặc biệt là cách trồng cam hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Tuy vậy, việc trồng cam cũng đang gặp khó khăn vì thời tiết khắc nghiêt nên một số diện tích cam mới trồng bị chết, có nhà thiệt hại hàng chục triệu đồng.
 
Trở lại bản Nưa, chúng tôi ghé thăm lớp học của những phụ nữ tâm huyết với nghề dệt thổ cẩm. Có hơn 20 học viên đang tham gia, cùng với đó là sự kỳ vọng về việc khôi phục lại cái nghề mà dường như vắng bóng trong một thời gian dài. Khi làng nghề hình thành, họ sẽ trở thành những thành viên đầu tiên. Chị Vi Thị Nguyệt Nga, học viên trẻ nhất lớp học cho biết: “Mình học để tham gia làng nghề. Khi điểm du lịch phát triển hơn, mình sẽ có thể kiếm thêm thu nhập từ việc bán hàng thổ cẩm”.  
 
Tôi cùng anh cán bộ xã đội xuống tắm suối Tả Bó, để tôi được trải nghiệm cảm giác của một du khách. Dòng suối như đưa tôi trở lại với thế giới tuổi thơ. Dẫu vậy tôi vẫn thấy không gian nơi đây đã đổi thay quá nhiều. Rặng cây đã ít đi, những tảng đá chẳng còn mang vẻ huyền bí của rêu phong nữa. Đặc biệt với lượng khách lớn đến tắm suối mỗi ngày khiến dòng nước không còn trong veo như trước kia nữa. Và tôi còn một chút tiếc nuối khi dạo qua những hàng quán chỉ thấy những đồ uống tân thời. Thiếu vắng hẳn những mặt hàng như thổ cẩm, rượu cần… vốn là những đặc sản của người Thái. Thế nhưng anh cán bộ xã đội kịp trấn an tôi: Khi làng nghề thổ cẩm hình thành, sẽ có hẳn một không gian riêng dành cho mặt hàng này ở Tả Bó. Khi ấy, một ngồi nhà sàn sẽ được dựng lên cạnh suối. Dưới gầm sàn là nơi bày bán thổ cẩm. Trên nhà thì để khách ở, có thể tá túc qua đêm. 
 
Chúng tôi trở lại bản Nưa thăm một nhà đón khách du lịch của gia đình anh Vi Văn Thụ. Căn nhà được thiết kế khá khang trang với tiện nghi sinh hoạt tương đối đầy đủ. Anh cho biết trong vòng 2 tháng trở lại đây gia đình đón gần chục đoàn khách du lịch. Giá cả nhiều khi do khách tự trả. Mỗi đêm 50.000 đồng mỗi người. Anh cũng chia sẻ thêm, thực ra bà con làm du lịch ở đây vẫn còn rất “hồn nhiên”. Gần như những khoản phục vụ như chỗ ở, biểu diễn văn nghệ đều do khách hàng định giá. Có đoàn “sộp” trả cho 1,5 triệu đồng mỗi đêm diễn, có đoàn chỉ trả vài, ba trăm nghìn đồng nhưng mọi người đều cảm thấy rất vui vẻ. 
 
Vậy là bà con bản Nưa đã chập chững biết làm du lịch, ấy là điều đáng mừng, thế nhưng rất cần có sự định hướng, giúp đỡ thêm để bà con gắn bó với hướng đi này lâu bền!
 
HỮU VI (Baonghean.vn)